
Nông trại của anh Hoàng Văn Cường, thôn Bần, xã Võ Miếu sản xuất theo phương thức tuần hoàn hữu cơ
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, giai đoạn 2021- 2025, nông nghiệp Phú Thọ đạt nhiều kết quả quan trọng, tạo nền tảng cho bước chuyển sang mô hình phát triển xanh và tuần hoàn. Tốc độ tăng trưởng GRDP nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 3,5%/năm; giá trị sản phẩm bình quân trên một ha đất canh tác đạt khoảng 140 triệu đồng, tăng 25 triệu đồng so với năm 2020. Tỉnh đã hình thành 686 vùng trồng trọt tập trung với tổng diện tích 82,8 nghìn ha; cấp 769 mã số vùng trồng; có 661 sản phẩm đạt chuẩn OCOP từ 3 sao trở lên. Việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa sản xuất và xây dựng các chuỗi liên kết bảo đảm an toàn thực phẩm có chuyển biến tích cực. Kết quả trên cho thấy nông nghiệp Phú Thọ đang từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung, ứng dụng khoa học kỹ thuật và nâng cao giá trị sản phẩm. Đây chính là tiền đề quan trọng để tỉnh tiếp tục phát triển các mô hình nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp xanh và nông nghiệp tuần hoàn trong giai đoạn mới.

Nông trại của anh Hoàng Văn Cường, thôn Bần, xã Võ Miếu sản xuất theo phương thức tuần hoàn hữu cơ
Theo đó, tỉnh đặt ra mục tiêu cụ thể đến năm 2030: Trong trồng trọt, phấn đấu 70% phụ phẩm cây trồng chủ lực tại các vùng sản xuất tập trung được thu gom, tái sử dụng; mức sử dụng phân bón hữu cơ công nghiệp bình quân đạt tối thiểu 30% tổng lượng phân bón sử dụng trong sản xuất nông nghiệp. Trong chăn nuôi và thủy sản, phấn đấu 60% hộ chăn nuôi và 100% trang trại áp dụng công nghệ, kỹ thuật xử lý và tái sử dụng chất thải chăn nuôi; 50% bùn thải và 50% nước thải tại các trang trại nuôi trồng thủy sản được xử lý và tái sử dụng; 100% phụ phẩm của công nghiệp chế biến thủy sản được xử lý và tái sử dụng. Trong lĩnh vực lâm nghiệp, phấn đấu 50% phụ phẩm khai thác, chế biến gỗ được tái sử dụng làm nhiên liệu sinh học hoặc sản phẩm gỗ. Đến năm 2035, lĩnh vực trồng trọt phấn đấu giảm ít nhất 15% lượng phát thải khí nhà kính so với năm 2020; đồng thời, bảo hộ nhãn hiệu “Phát thải thấp” cho một số nông sản chủ lực như lúa, chè, bưởi, chuối.
Để đạt được các mục tiêu trên, Phú Thọ đã phát huy lợi thế sau sáp nhập và tạo động lực mới cho phát triển nông nghiệp, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các định hướng, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như: Xây dựng Đề án thúc đẩy phát triển kinh tế xanh; Đề án nông nghiệp tuần hoàn, tích hợp đa giá trị; triển khai kế hoạch hành động giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt đến năm 2035; phấn đấu đưa chỉ số Xanh cấp tỉnh (PGI) vào tốp 10 cả nước vào năm 2030. Chỉ đạo chuyển mạnh từ tư duy chú trọng sản lượng sang tư duy phát triển kinh tế nông nghiệp; coi phụ phẩm, chất thải nông nghiệp là nguồn tài nguyên có thể tái sử dụng, tái chế và tạo ra giá trị mới. Tập trung rà soát, tích hợp không gian quy hoạch nông nghiệp gắn với hạ tầng giao thông và logistics xanh, tạo sự liên thông giữa vùng sản xuất, chế biến, bảo quản và thị trường. Ưu tiên nguồn lực cho nghiên cứu, ứng dụng các hệ thống cảm biến thông minh, công nghệ IoT trong quản lý dinh dưỡng đất, dự báo dịch bệnh và điều tiết nước tưới tiết kiệm. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong nông nghiệp thông qua xây dựng bản đồ nông sản số, ứng dụng Blockchain để tăng tính minh bạch của chuỗi cung ứng và sử dụng mã QR phục vụ truy xuất nguồn gốc nông sản xuất khẩu.
Tỉnh triển khai các mô hình nông nghiệp tuần hoàn, gắn giá trị kinh tế với giá trị văn hóa, cảnh quan và du lịch. Các vùng sản xuất đặc trưng như đồi chè Long Cốc, vùng bưởi Đoan Hùng, vùng cam Cao Phong, vùng nuôi cá lồng trên lòng hồ Hòa Bình được định hướng phát huy đồng thời giá trị sản xuất, sinh thái và trải nghiệm. Trong đó, hợp tác xã được xác định là một trong những hạt nhân quan trọng để liên kết người dân với doanh nghiệp, tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ổn định. Định hướng lồng ghép các nguồn vốn của Chương trình mục tiêu quốc gia với tín dụng xanh và nguồn tài trợ quốc tế để đầu tư, hoàn thiện hệ thống thủy lợi, điện, kho lạnh và các hạ tầng phục vụ bảo quản, chế biến nông sản. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số và kỹ năng vận hành mô hình nông nghiệp tuần hoàn cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật, doanh nghiệp và hợp tác xã. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, vận động, từng bước thay đổi tập quán canh tác lạm dụng hóa chất vô cơ, chuyển sang sản xuất hữu cơ, an toàn sinh học; nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về giá trị của nông sản xanh, nông sản sạch, an toàn thực phẩm, qua đó thúc đẩy tiêu dùng xanh trên địa bàn.

Thời gian tới, Phú Thọ tiếp tục chỉ đạo tháo gỡ các điểm nghẽn về liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ; nâng cao vai trò của hợp tác xã, doanh nghiệp và các chủ thể sản xuất trong tổ chức lại sản xuất. Lựa chọn, nhân rộng các mô hình tuần hoàn, tích hợp đa giá trị phù hợp với điều kiện sinh thái, sản phẩm và thị trường của từng địa phương. Coi khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là động lực quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất; ứng dụng công nghệ hướng vào những vấn đề thực tế như: tiết kiệm vật tư, nước tưới, giảm phát sinh chất thải, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường. Đồng thời, tiếp tục đầu tư đồng bộ hạ tầng phục vụ nông nghiệp xanh, nhất là thủy lợi, điện, kho lạnh, bảo quản và logistics; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức về công nghệ số, kinh tế tuần hoàn và quản trị chuỗi giá trị nông sản. Đổi mới nội dung, phương thức công tác thông tin, tuyên truyền, làm cho người sản xuất hiểu rõ lợi ích kinh tế của việc sử dụng tiết kiệm tài nguyên, tái sử dụng phụ phẩm, giảm chất thải; từng bước hình thành thói quen tiêu dùng nông sản xanh, sạch, an toàn trong cộng đồng.
Với quyết tâm đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân, phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn sẽ góp phần xây dựng nền nông nghiệp Phú Thọ hiện đại, hiệu quả, có sức cạnh tranh và phát triển bền vững; đóng góp thiết thực vào mục tiêu xây dựng tỉnh Phú Thọ phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc văn hóa, trở thành một “tỉnh xanh, thân thiện, đáng sống”.
Hồng Liên