Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Động lực tăng trưởng mới của Phú Thọ
Xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm, thời gian qua Phú Thọ đã đạt nhiều kết quả tích cực trong phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và từng bước khẳng định vị thế của tỉnh trong khu vực trung du miền núi phía Bắc.

Bí thư Tỉnh uỷ Phạm Đại Dương, Trưởng Ban Chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của tỉnh chủ trì Hội nghị họp Ban Chỉ đạo sở kết quý I/2026
Việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW đã tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị và xã hội đối với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời đưa Phú Thọ trở thành một trong ba địa phương hoàn thành sớm nhất các nhiệm vụ trên hệ thống giám sát thực hiện Nghị quyết.
Ngay sau khi sáp nhập tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, địa phương, cơ quan, đơn vị trong toàn tỉnh quán triệt, phổ biến sâu rộng Nghị quyết số 57-NQ/TW cùng các văn bản của Trung ương và của tỉnh liên quan đến phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Quyết liệt triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”, phổ cập và nâng cao kỹ năng số cơ bản cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người dân và doanh nghiệp, từng bước xây dựng công dân số, xã hội số và hình thành đội ngũ chuyên gia nòng cốt, làm chuyển biến rõ nét nhận thức của toàn hệ thống chính trị và người dân về lĩnh vực này.
Tỉnh Phú Thọ đã có những bước chuyển mạnh mẽ, nằm trong nhóm các địa phương hoàn thành sớm nhất cả nước các mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giai đoạn đầu. Chính quyền số, kinh tế số, xã hội số được tích cực triển khai. Kinh tế số chiếm 22,71% GRDP, xếp thứ 3/34 tỉnh, thành phố. Đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) xếp thứ 15/34 tỉnh, thành phố, tăng 2 bậc so với năm 2024. Đến tháng 3/2026, tỷ lệ hồ sơ tiếp nhận, giải quyết trực tuyến đạt gần 94%; tỷ lệ cấp kết quả điện tử đạt trên 93%; tỷ lệ số hoá hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính đạt gần 93%; 100% văn bản cơ quan nhà nước (trừ văn bản mật) được gửi, nhận trên môi trường điện tử. Nhiều tiện ích đã được triển khai như: hệ thống phòng họp không giấy tờ; số hóa cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, điều hành, 100% đơn vị cấp tỉnh và cấp xã đạt “Trạng thái Xanh” ngay từ khi vận hành chính quyền địa phương 2 cấp. Năm 2025, Phú Thọ hoàn thành đúng hạn 100% các chỉ tiêu, nhiệm vụ chuyển đổi số được Trung ương giao và thuộc Top một cả nước.
Hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo được triển khai bài bản, có trọng tâm, trọng điểm. Các mô hình ứng dụng đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số bước đầu phát huy hiệu quả và có khả năng nhân rộng; tiềm lực khoa học và công nghệ được củng cố; phong trào sáng tạo, khởi nghiệp phát triển mạnh. Hoạt động chuyển giao công nghệ, đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) trong doanh nghiệp chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đây chính là đòn bẩy chiến lược để tỉnh hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030.
Trước yêu cầu nâng cao hiệu quả ứng dụng khoa học, công nghệ sau hợp nhất, tỉnh đã đẩy mạnh mô hình “3 nhà”, tăng cường liên kết giữa quản lý nhà nước, nghiên cứu - đào tạo và doanh nghiệp; đồng thời mở rộng hợp tác với các viện, trường đại học lớn như: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Đại học Lâm nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam… để triển khai nhiều đề tài, dự án ứng dụng vào sản xuất, đời sống. Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm tiếp tục phát huy hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, từ y tế, công nghiệp đến chuyển đổi số, môi trường và nông nghiệp công nghệ cao.
Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của tỉnh ngày càng định hình rõ nét, gắn kết mạng lưới khởi nghiệp vùng, thu hút startup, chuyên gia và các quỹ đầu tư. Năm 2026, tỉnh tiếp tục xây dựng Đề án thành lập Trung tâm đổi mới sáng tạo Phú Thọ, đồng thời đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị để hình thành và phát triển mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo.

Cán bộ Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Phùng Nguyên hướng dẫn người dân nộp hồ sơ thủ tục hành chính trực tuyến
Hạ tầng số trên địa bàn tỉnh được khai thác hiệu quả, phục vụ đắc lực công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp tiếp cận thuận lợi các dịch vụ số, thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng. Toàn tỉnh cung cấp 2.116 dịch vụ công trực tuyến (48,4% toàn trình, 51,6% một phần) để phục vụ người dân, tổ chức, doanh nghiệp. Hạ tầng cáp quang băng thông rộng, mạng truyền số liệu chuyên dùng triển khai đến 148/148 xã, phường; tỷ lệ hộ gia đình sử dụng mạng internet cáp quang đạt 86%; phủ sóng di động 4G đạt 98% diện tích. Toàn tỉnh đã có gần 1.000 trạm 5G, tăng hơn 7 lần so với thời điểm sáp nhập tỉnh. Mạng 5G đã phủ sóng 100% khu vực đô thị, trung tâm các xã và khu công nghiệp; tỷ lệ phủ sóng đạt khoảng 60% dân số; không còn thôn lõm sóng theo tiêu chí của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Các nền tảng, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của Trung ương và của tỉnh được triển khai đồng bộ, liên thông từ tỉnh đến cơ sở, đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền số. Dữ liệu từng bước được làm sạch, kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia. Hệ thống quản lý văn bản điều hành được triển khai tới 2.500 đơn vị trên toàn tỉnh với gần 30.000 tài khoản. Hệ thống hội nghị trực tuyến được sử dụng thường xuyên, đáp ứng tốt yêu cầu chỉ đạo, điều hành nhanh chóng, thuận tiện. Hệ thống phòng họp không giấy bước đầu vận hành hiệu quả, giúp nâng cao năng lực quản lý và hiện đại hóa môi trường làm việc. Từ ngày 10/9/2025, tỉnh triển khai thí điểm Chatbot ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) tại 3 Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh và 6 Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã để hỗ trợ giải quyết thủ tục hành chính.
Kinh tế số của tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng khá, đóng góp tích cực vào GRDP của tỉnh với mũi nhọn là công nghiệp điện tử, công nghệ cao. Hoạt động chuyển đổi số trong doanh nghiệp, thanh toán không dùng tiền mặt và thương mại điện tử được triển khai phạm vi rộng trong toàn tỉnh. Đến năm 2025, có khoảng 600 doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử, phát triển phần mềm, dịch vụ và giải pháp công nghệ số, đóng góp 4,55 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP và nâng tổng giá trị xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp số đạt hơn 7 tỷ USD. 100% lĩnh vực hành chính công, cơ sở y tế, giáo dục và hệ thống các siêu thị, cơ sở kinh doanh đã sử dụng hình thức giao dịch không dùng tiền mặt.
Xã hội số triển khai đồng bộ mang lại lợi ịch tối đa cho người dân trong các lĩnh vực cốt lõi như y tế, giáo dục và dịch vụ công. Đến nay, tỉnh đã hoàn thành cấp căn cước công dân cho trên 3,1 triệu công dân; 2.575.109 tài khoản định danh điện tử, trong đó 2.438.487 tài khoản đã kích hoạt, phục vụ giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường số. 100% cơ sở khám, chữa bệnh tiếp nhận thông tin qua CCCD, VNeID, liên thông dữ liệu BHYT; 100% bệnh viện triển khai hồ sơ bệnh án điện tử theo lộ trình; 100% trường phổ thông sử dụng hệ thống quản lý, sổ điểm điện tử, E-learning và học liệu số. Phong trào “Bình dân học vụ số” được triển khai rộng khắp, nhiều địa phương có cách làm hay, sáng tạo với các mô hình: “Tổ công nghệ số cộng đồng”, “Gia đình số”, “Chợ số - Nông thôn số”, “Đại sứ số”, “Làng số”, “Chợ phụ nữ Online”… phát huy hiệu quả. Đã triển khai tổ chức 37 lớp đào tạo, bồi dưỡng trực tiếp và 04 khóa trực tuyến cho trên 21.500 lượt cán bộ các cấp và bồi dưỡng nhân lực số theo mô hình học trực tuyến trên nền tảng MOOC “binhdanhocvuso.gov.vn” cho 2.262 cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan, đơn vị, xã, phường trên địa bàn tỉnh.
148/148 xã, phường đã thành lập Tổ công nghệ số cộng đồng và phản ứng nhanh, trở thành “cầu nối số” đưa công nghệ đến gần hơn với người dân. Các tổ đã phát huy hiệu quả trong hỗ trợ cán bộ, công chức nâng cao năng lực thực thi công vụ; đồng thời hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thực hiện giao dịch điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt và nâng cao kỹ năng số. Không chỉ vậy, các tổ còn hỗ trợ quảng bá, tiêu thụ sản phẩm trên nền tảng số, góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người dân địa phương.
Nhận diện những “điểm nghẽn” trong kỷ nguyên số
Mặc dù đạt nhiều kết quả tích cực và hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, song hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của tỉnh Phú Thọ hiện mới chủ yếu dừng ở mức “đạt tiến độ”. Để tạo bước đột phá thực chất, tỉnh cần chuyển mạnh từ tư duy hoàn thành kế hoạch sang hướng tới hiệu quả, sản phẩm và giá trị cụ thể. Điều đó đòi hỏi phải sớm nhận diện, tháo gỡ những “điểm nghẽn” đang cản trở quá trình phát triển.
Một là, việc cụ thể hóa chủ trương, chính sách ở một số lĩnh vực còn chậm; nguồn lực tài chính cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa đáp ứng yêu cầu. Giống như nhiều địa phương khác, Phú Thọ vẫn đang phải đối mặt với những quy định chồng chéo, thủ tục hành chính kéo dài và tư duy quản lý nặng về kiểm soát, làm chậm nhịp độ phát triển. Thể chế chưa đủ thông thoáng khiến những người dám nghĩ, dám làm dễ chùn bước, trong khi doanh nghiệp mất nhiều thời gian và chi phí để vượt qua các “cửa ải” hành chính. Khối lượng công việc sau hợp nhất tỉnh nhiều, trong khi thời gian sau khi Luật Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và các nghị định hướng dẫn mới ban hành nên việc nghiên cứu, thể chế hóa ở tỉnh cần thêm thời gian để bảo đảm đầy đủ, đồng bộ.
Hai là, hạ tầng số, trang thiết bị và đường truyền tại một số xã miền núi còn hạn chế; dữ liệu chuyên ngành chưa đồng bộ, việc kết nối, chia sẻ và làm sạch dữ liệu chưa thực sự hiệu quả. Địa bàn rộng, dân cư phân tán cùng hạ tầng viễn thông, internet chưa ổn định ở vùng sâu, vùng xa cũng ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ công trực tuyến của người dân. Bên cạnh đó, khối lượng hồ sơ lớn tạo áp lực trong xử lý, vẫn còn tình trạng hồ sơ chậm, muộn ở một số lĩnh vực. Kinh tế số phát triển chưa đồng đều giữa các ngành, lĩnh vực và địa bàn; nhiều doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh còn hạn chế về năng lực chuyển đổi số, thiếu doanh nghiệp dẫn dắt, trong khi việc ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, kinh doanh ở nhiều lĩnh vực vẫn còn ở mức cơ bản. Kỹ năng số của một bộ phận người dân còn hạn chế; hạ tầng và thiết bị công nghệ tại một số khu vực còn khó khăn; công tác tuyên truyền chưa thật sự sâu rộng. Tỷ lệ kích hoạt, sử dụng thường xuyên các nền tảng số chưa cao. Một số mô hình chuyển đổi số còn mang tính thí điểm, chưa được nhân rộng.
Chưa có hướng dẫn cụ thể của Trung ương về việc thành lập Trung tâm đổi mới sáng tạo cấp tỉnh, nhất là về xác định vị trí pháp lý và mô hình hoạt động để hoạt động hiệu quả, thực chất. Hạ tầng và chính sách hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo, đặc biệt trong doanh nghiệp chưa đồng bộ, thiếu không gian sáng tạo, khu làm việc chung và các tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ.
Ba là, nguồn lực đầu tư cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của tỉnh còn hạn chế, với tỷ lệ chi ngân sách năm 2026 mới đạt 1,16%. Trong bối cảnh sau sáp nhập còn nhiều khó khăn về cân đối ngân sách, tỉnh cần thêm các cơ chế tài chính đặc thù và đẩy mạnh xã hội hóa để huy động nguồn lực ngoài ngân sách.
Cơ chế quản lý tài chính theo mô hình quỹ đối với các nhiệm vụ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa được vận hành đầy đủ, thiếu tính linh hoạt trong huy động và sử dụng nguồn lực ngoài ngân sách cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh tỉnh mới hợp nhất, khả năng cân đối ngân sách còn hạn chế, đòi hỏi cần có cơ chế hỗ trợ từ Trung ương và xã hội hóa nguồn lực.
Bốn là, Tỉnh đang thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học công nghệ và chuyển đổi số; cơ chế thu hút, đãi ngộ chưa đủ sức cạnh tranh. Bên cạnh đó, nguồn lực cho đào tạo, hợp tác quốc tế còn hạn chế, trong khi việc gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu doanh nghiệp và thị trường lao động chưa thực sự chặt chẽ. Năng lực ngoại ngữ, kỹ năng hội nhập, năng lực triển khai các chương trình hợp tác quốc tế của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu; việc phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong triển khai còn thiếu đồng bộ.
Chất lượng nhân lực số chưa đồng đều giữa các cấp, nhất là ở cơ sở; kỹ năng ứng dụng công nghệ và AI của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Hoạt động đào tạo còn thiên về phổ cập, thiếu chuyên sâu theo từng lĩnh vực; tinh thần tự học, tự cập nhật kiến thức số chưa cao. Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế chưa tương xứng với tiềm năng do nguồn lực đầu tư còn khó khăn, năng lực ngoại ngữ và kỹ năng hội nhập của một bộ phận cán bộ còn bất cập, ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai các chương trình hợp tác và chuyển giao công nghệ.
Khơi thông "điểm nghẽn", mở đường cho khoa học công nghệ Phú Thọ bứt phá
Tỉnh Phú Thọ đang tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ các “điểm nghẽn”, tạo động lực thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm phát triển công nghiệp, thương mại, logistics, du lịch, y tế và đào tạo chất lượng cao của vùng và cả nước. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, tỉnh xác định cần tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, tiếp tục rà soát, hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách; đồng thời chủ động kiến nghị Trung ương hướng dẫn, tháo gỡ kịp thời những vướng mắc, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Các sở, ban, ngành của tỉnh tiếp tục phối hợp chủ động rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tháo gỡ các quy định chồng chéo, mâu thuẫn tồn đọng sau quá trình hợp nhất tỉnh, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ với Trung ương. Đồng thời, tập trung tham mưu điều chỉnh, hoàn thiện các cơ chế, chính sách về khoa học công nghệ và chuyển đổi số, trong đó đảm bảo việc phân cấp, phân quyền gắn với nền tảng số, dữ liệu để thống nhất, thông suốt. Đây là bước đi chiến lược nhằm khơi thông các “điểm nghẽn” thể chế, bảo đảm sự quản lý thông suốt và tạo động lực mạnh mẽ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Tiếp tục ban hành các nghị quyết, quy chế để cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ. Thực hiện nguyên tắc “6 rõ, 1 xuyên suốt” (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền và xuyên suốt từ tỉnh đến xã) để đảm bảo hoạt động hiệu quả. Các cơ quan, đơn vị liên quan cần tiếp tục nâng cao tính chủ động, phối hợp, bảo đảm tiến độ và chất lượng thực hiện.
Thứ hai, tiếp tục đẩy nhanh xây dựng khung kiến trúc số và tăng cường đầu tư nguồn lực cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên phạm vi toàn tỉnh.
Trong bối cảnh Phú Thọ triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và bước vào giai đoạn phát triển mới sau sáp nhập, việc tăng cường nguồn lực đầu tư và xây dựng khung kiến trúc số thống nhất, đồng bộ trên toàn tỉnh được xem là giải pháp then chốt để tháo gỡ các “điểm nghẽn”, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chủ động đăng ký nhu cầu kinh phí và kế hoạch vốn theo đúng thời hạn quy định, đảm bảo nguyên tắc ưu tiên và bố trí đủ kinh phí cho các nhiệm vụ trọng tâm. Tập trung tháo gỡ các “điểm nghẽn” về cơ chế tài chính, thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thuộc thẩm quyền ban hành của tỉnh, bảo đảm phù hợp yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Cùng với đó, tỉnh tiếp tục rà soát nguồn lực, bố trí kinh phí cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026, từng bước tăng chi ngân sách giai đoạn 2026 - 2030 và đẩy mạnh xã hội hóa để huy động thêm nguồn lực ngoài ngân sách.
Khung kiến trúc số tỉnh phú Thọ giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035 được xem như là bản thiết kế tổng thể, định hướng hoạt động chuyển đổi số của toàn tỉnh trong giai đoạn mới. Đây là nền tảng quan trọng thay thế cho các Khung kiến trúc Chính quyền điện tử đã ban hành trước đó của cả ba tỉnh Phú Thọ, Hòa Bình, Vĩnh Phúc. Việc đẩy nhanh xây dựng khung kiến trúc số mới không chỉ phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp mà còn bám sát định hướng phát triển tỉnh Phú Thọ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời đáp ứng yêu cầu của Chương trình chuyển đổi số quốc gia và Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.
Thứ ba, đầu tư hạ tầng số và công nghệ ngày càng hiện đại nhằm nhằm tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường kết nối số với các địa phương trong cả nước và từng bước hội nhập quốc tế.
Tỉnh Phú Thọ xác định tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo và phối hợp giữa các cấp, các ngành nhằm nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng hạ tầng số dùng chung, phát huy tối đa hiệu quả đầu tư. Tỉnh đang tiếp tục triển khai kế hoạch hợp nhất 03 Trung tâm tích hợp dữ liệu về đặt tập trung tại khu vực phường Vĩnh Phúc. Đồng thời, xây dựng phương án đầu tư bổ sung, nâng cấp hạ tầng trang thiết bị hiện có theo hướng hiện đại, sử dụng công nghệ điện toán đám mây và tăng cường giải pháp bảo mật, an toàn thông tin đáp ứng yêu cầu theo tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành. Cùng với đó, tỉnh tập trung hoàn thiện hạ tầng số, nền tảng số, cơ sở dữ liệu trọng điểm theo định hướng thống nhất của Trung ương; nâng cấp, mở rộng Trung tâm điều hành thông minh phục vụ chỉ đạo, điều hành các cấp chính quyền.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, kỹ năng sử dụng hệ thống thông tin và dịch vụ công trực tuyến cho cán bộ, công chức và người dân tiếp tục được đẩy mạnh, gắn với nâng cao trách nhiệm người đứng đầu trong cải cách thủ tục hành chính và triển khai chuyển đổi số.
Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế số, xã hội số, phát triển các nền tảng số phục vụ doanh nghiệp và Nhân dân.
Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030, Phú Thọ đặt xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính cho tăng trưởng kinh tế. Tỉnh phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GRDP từ 11 - 12%/năm, với kinh tế số đóng góp hơn 30% GRDP. Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng số, thúc đẩy phát triển các nền tảng số phục vụ doanh nghiệp; tăng cường hỗ trợ, đào tạo kỹ năng số cho doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã, hộ kinh doanh; đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử và các mô hình kinh tế số mới.
Nghiên cứu ban hành cơ chế chính sách ưu đãi thu hút doanh nghiệp công nghệ cao đầu tư vào tỉnh; phát triển 01 khu công nghiệp công nghệ cao tại khu vực Vĩnh Phúc (trước đây) để thu hút đầu tư các ngành công nghiệp mới nổi, giá trị gia tăng cao như chíp, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo. Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ cập kỹ năng số cho người dân; phát huy vai trò của tổ công nghệ số cộng đồng trong hỗ trợ, hướng dẫn sử dụng dịch vụ số. Đồng thời, hoàn thiện hạ tầng số, mở rộng và nhân rộng các mô hình hiệu quả; tăng cường tích hợp, nâng cao tiện ích của các nền tảng số phục vụ người dân.
Thứ năm, đổi mới phương thức nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và thu hút đầu tư, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về tỉnh.
Tăng cường phối hợp với các viện, trường để nâng cao năng lực nghiên cứu, đồng thời, chú trọng thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Toàn tỉnh hiện có 63 tổ chức, 24 doanh nghiệp, 10 trường đại học, cao đẳng, 20 viện, trung tâm nghiên cứu khoa học, công nghệ và 6 doanh nghiệp công nghệ cao…được hỗ trợ đầu tư, ứng dụng khoa học, công nghệ.
Tập trung hoàn thiện và triển khai hiệu quả Đề án phát triển, thu hút nguồn nhân lực tỉnh giai đoạn 2026 - 2030; ban hành chính sách cụ thể để thu hút, giữ chân nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thực hiện tuyển dụng linh hoạt theo vị trí việc làm, tăng cường đặt hàng đào tạo, liên kết với doanh nghiệp, cơ sở đào tạo để cung ứng nhân lực theo nhu cầu.
Phú Thọ đang quyết liệt hành động để vượt qua thách thức, biến khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành động lực cốt lõi cho sự phát triển bền vững. Theo chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân trong tỉnh quyết tâm xây dựng tỉnh Phú Thọ hướng đến xây dựng đô thị thông minh, trung tâm đổi mới sáng tạo và cực tăng trưởng của khu vực miền núi, vùng trung du phía Bắc và của Thủ đô. Đây chính là nền móng quan trọng, đồng thời, là công cụ quản trị giúp tối ưu nguồn lực và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững của tỉnh Phú Thọ trong kỷ nguyên mới.
Hồng Liên - Tiến Duy