
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đã cụ thể hóa mục tiêu chuyển đổi số bằng các chỉ tiêu cụ thể: Đến năm 2030, kinh tế số đóng góp trên 30% GRDP; chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh đạt từ 0,75 trở lên; trên 80% người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến; lao động qua đào tạo 80 - 85%; cơ sở giáo dục đạt chuẩn trên 95%.
Trong tổng thể đó, giáo dục giữ vai trò đặc biệt không chỉ tham gia thực hiện mà là nơi trực tiếp chuẩn bị nguồn nhân lực cho tương lai. Giáo dục giữ vai trò quyết định trong đào tạo nguồn nhân lực, hình thành công dân số và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Giáo dục không chỉ là lĩnh vực thực hiện, mà phải đi trước một bước, giữ vai trò tiên phong trong chuyển đổi số, góp phần quyết định mục tiêu phát triển bền vững.
Sau sáp nhập, Ngành giáo dục của tỉnh với quy mô gần 2.000 cơ sở giáo dục, khoảng 1 triệu học sinh, sinh viên. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, toàn ngành đã tham mưu cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch phù hợp, sát thực tiễn, bước đầu đạt được những kết quả rõ nét: Nhận thức và hành động trong toàn ngành có chuyển biến tích cực; chuyển đổi số đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm; đội ngũ cán bộ, giáo viên từng bước thích ứng với môi trường số và chủ động ứng dụng công nghệ trong chuyên môn. Hạ tầng và nền tảng số được mở rộng;100% cơ sở giáo dục kết nối Internet; 90% trường có phòng máy tính phục vụ dạy học; nền tảng số cơ bản đã được phủ rộng, tạo điều kiện triển khai đồng bộ. Công tác quản trị giáo dục chuyển mạnh sang môi trường số; 100% học sinh, giáo viên có hồ sơ số; 100% trường tiểu học trở lên sử dụng học bạ điện tử; 100% trường THCS trở lên sử dụng sổ điểm điện tử; tuyển sinh lớp 10 thực hiện hoàn toàn trực tuyến. Toàn ngành triển khai 178 dịch vụ công, trong đó 58 dịch vụ toàn trình; 100% văn bản được xử lý, ký số. Hoạt động dạy học cũng có bước đổi mới; 100% cơ sở giáo dục sẵn sàng dạy học trực tuyến khi cần; học liệu số được khai thác rộng rãi; các nền tảng như Google Meet, Microsoft Teams, Zoom, K12online được sử dụng phổ biến, góp phần mở rộng không gian học tập. Đội ngũ cán bộ, giáo viên được bồi dưỡng và hiệu quả xã hội được khẳng định; gần 60 nghìn cán bộ, giáo viên được quán triệt các nghị quyết về chuyển đổi số; 100% nhà giáo có tài khoản bồi dưỡng trực tuyến. Mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục đạt 100%, phản ánh hiệu quả thực chất của chuyển đổi số. Đặc biệt, trong điều kiện còn nhiều khó khăn, chuyển đổi số đã góp phần thu hẹp khoảng cách vùng miền, giảm thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả phục vụ người dân.
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai chuyển đổi số trong giáo dục vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế: Hạ tầng số chưa đồng bộ, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa; khoảng 30% đơn vị còn đường truyền yếu; 60% máy tính đã lạc hậu, ảnh hưởng đến việc triển khai dạy học và quản lý trên môi trường số. Cùng với đó, đội ngũ giáo viên tin học, công nghệ còn thiếu; chênh lệch năng lực số giữa các vùng miền. Một bộ phận giáo viên tâm lý e ngại, chưa chủ động đổi mới; năng lực ứng dụng công nghệ trong dạy học còn hạn chế. Công tác quản trị dữ liệu và an toàn thông tin còn bất cập. Dữ liệu chưa đồng bộ, việc khai thác chưa hiệu quả.
Để kịp thời khắc phục những hạn chế trên, Ngành Giáo dục cần tham mưu, thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực và con người trong chuyển đổi số. Đây là nhóm giải pháp mang tính quyết định, bởi chuyển đổi số trước hết là chuyển đổi từ nhận thức đến hành động của con người. Trong đó, cần tập trung nâng cao năng lực số và kỹ năng sư phạm số cho đội ngũ nhà giáo, coi đây là giải pháp nền tảng để thu hẹp “khoảng cách số” và khắc phục tâm lý e ngại công nghệ. Thực tiễn cho thấy, Ngành đã triển khai các hệ thống bồi dưỡng trực tuyến như taphuan.csdl.edu.vn, office365.vn, bảo đảm 100% nhà giáo có tài khoản để tự học, tự bồi dưỡng thường xuyên. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới là phải chuyển từ “biết sử dụng” sang “làm chủ công nghệ”, biết thiết kế bài giảng điện tử, bài giảng tương tác và khai thác hiệu quả kho học liệu số. Đồng thời, cần chú trọng phát triển năng lực tổ chức dạy học theo định hướng STEM/STEAM và từng bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý lớp học và giảng dạy. Cùng với đó, cần khẩn trương kiện toàn và bổ sung đội ngũ nhân lực số, đặc biệt là nhân sự chuyên trách công nghệ thông tin và giáo viên tin học, nhất là ở cấp tiểu học. Việc rà soát, bố trí nhân sự kiêm nhiệm hoặc chuyên trách tại từng đơn vị cần được thực hiện đồng bộ; đồng thời tham mưu cơ chế tuyển dụng, bổ sung biên chế, trong đó dự kiến đề xuất tuyển dụng 2.585 viên chức năm 2025 để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu chính sách đặc thù nhằm thu hút, giữ chân đội ngũ làm công tác công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Một yêu cầu quan trọng khác là nâng cao năng lực quản trị dữ liệu và bảo đảm an toàn thông tin. Trong kỷ nguyên số, dữ liệu là tài sản quan trọng, vì vậy cần tổ chức các chương trình bồi dưỡng chuyên sâu về quản trị, phân tích dữ liệu và an toàn thông tin cho cán bộ quản lý và nhân viên chuyên trách; từng bước chuẩn hóa năng lực đội ngũ theo các tiêu chí chung của tỉnh.
Thứ hai, nhóm giải pháp về hạ tầng, dữ liệu và điều kiện bảo đảm. Đây là nền tảng để chuyển đổi số được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Trong giai đoạn tới, cần tập trung hoàn thiện hạ tầng số, rà soát, nâng cấp thiết bị, đường truyền, bảo đảm điều kiện làm việc trên môi trường số, đặc biệt ở vùng khó khăn. Đồng thời, cần xây dựng, kết nối và khai thác hiệu quả hệ thống dữ liệu giáo dục dùng chung, góp phần giảm áp lực báo cáo, nâng cao hiệu quả quản lý. Việc đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý, dạy học và phục vụ người dân cần tiếp tục được triển khai đồng bộ thông qua các nền tảng số, học liệu số và dịch vụ công trực tuyến.
Song song với đó, cần đặc biệt chú trọng bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, gắn với yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước và tuân thủ các quy định về an ninh mạng. Việc bảo đảm nguồn lực, với mục tiêu chi cho giáo dục đạt tối thiểu 20% tổng chi ngân sách, sẽ là điều kiện quan trọng để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ này.
Thứ ba, nhóm giải pháp về lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện. Đây là yếu tố quyết định đến hiệu quả thực thi và khả năng đưa Nghị quyết vào cuộc sống. Trong đó, cần đổi mới mạnh mẽ phương thức quản lý, chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu và công nghệ số. Người đứng đầu các cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý phải trực tiếp chịu trách nhiệm về kết quả chuyển đổi số tại đơn vị mình; đồng thời phải được bồi dưỡng nâng cao năng lực lãnh đạo trong bối cảnh mới. Việc xây dựng kế hoạch triển khai cần bảo đảm rõ mục tiêu, rõ nhiệm vụ, rõ trách nhiệm và rõ lộ trình thực hiện. Đồng thời, cần tăng cường tiếp cận công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực đội ngũ thông qua các chương trình hợp tác với các tổ chức, doanh nghiệp công nghệ và các đối tác quốc tế.
Có thể nhận thức rõ ba giá trị cốt lõi của chuyển đổi số trong giáo dục: Đó là công bằng trong tiếp cận tri thức, hiệu quả trong quản lý và đột phá trong phát triển. Chính ba giá trị này khẳng định chuyển đổi số không chỉ là công cụ, mà là phương thức mới để tổ chức giáo dục. Điểm cốt lõi của chuyển đổi số không nằm ở công nghệ, mà nằm ở con người. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là chủ thể của quá trình phát triển. Trong đó, đội ngũ nhà giáo giữ vai trò then chốt; người đứng đầu giữ vai trò quyết định trong tổ chức thực hiện.
Từ đó, có thể xác định rõ trách nhiệm ở ba cấp độ: Cấp ủy có trách nhiệm quán triệt, nâng cao nhận thức; các cơ sở giáo dục có trách nhiệm tổ chức triển khai đồng bộ các nhiệm vụ; và mỗi cán bộ, giáo viên có trách nhiệm trực tiếp trong việc nâng cao năng lực số, đổi mới phương pháp làm việc. Thực tiễn đã chỉ ra một điều rất rõ ràng: chuyển đổi số không bắt đầu từ những hệ thống lớn, mà bắt đầu từ từng giáo án, từng giờ dạy, từ chính mỗi con người trong ngành giáo dục. Và cũng từ đó có thể khẳng định: chuyển đổi số chỉ thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng giáo dục khi được thực hiện đồng bộ trên cả ba trụ cột: con người là trung tâm, hạ tầng là nền tảng và lãnh đạo là khâu quyết định.
Chuyển đổi số trong giáo dục không còn là lựa chọn mà là yêu cầu tất yếu; không chỉ là công cụ hỗ trợ mà đã trở thành phương thức tổ chức mới của giáo dục cả nước và giáo dục Phú Thọ trong kỷ nguyên hiện nay. Khi nhận thức được nâng lên, hạ tầng từng bước hoàn thiện, đội ngũ chủ động đổi mới, chuyển đổi số đã tạo chuyển biến rõ nét, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và củng cố niềm tin xã hội. Đối với giáo dục, chuyển đổi số vừa nâng cao hiệu quả quản trị, vừa mở ra cơ hội đổi mới dạy học, phát triển đội ngũ, hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao. Với sự lãnh đạo của Đảng, sự thống nhất trong hành động và tinh thần đổi mới, sáng tạo, tin tưởng rằng chuyển đổi số sẽ trở thành động lực mạnh mẽ, nâng cao chất lượng giáo dục và dẫn dắt sự phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
Hồng Liên